Việt – Campuchia

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Thứ Năm, 6/5/2021| 14:00

Cồng chiêng như thể linh hồn người Tây Nguyên!Ở Việt Nam khi nói đến Cồng chiêng, người ta thường liên tưởng ngay đến vùng đất Tây Nguyên với bối cảnh nhà rông, nhà dài bập bùng ngọn lửa và nghe ấm áp giọng kể khan. Đối với người Tây Nguyên, Cồng chiêng là một thứ tài sản vô giá của họ.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

 Nhịp chiêng-Ảnh: Hữu Hùng 

Cồng chiêng được coi là vật thiêng, là phương tiện giao cảm niềm vui nổi buồn của con người với thần linh, với đất trời với tạo vật. Cồng chiêng được xem như một vị thần linh có tiếng vọng ngàn đời trong tâm thức cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên từ truyền thống đến hiện đại.

 

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

 Âm vang Tây Nguyên- Ảnh: Xuân Chiến

Chính vì vậy mà Cồng chiêng Tây Nguyên đã được định danh là loại hình di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian. Trong đó lưu giữ cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thủa sơ khai. Xuất phát từ một vùng đất hoang sơ với đời sống nông nghiệp nương rẫy, sự đa dạng văn hóa tộc người và trình độ âm nhạc điêu luyện trên nền tảng của tri thức bản địa đã sản sinh ra một giá trị nghệ thuật khí nhạc vô cùng đặc sắc mang tên Cồng chiêng.

Cồng Chiêng là loại nhạc khí phổ biến ở vùng Đông Nam Á, nó gắn bó mật thiết với sinh hoạt vòng đời và đời sống tâm linh của các tộc người Bahnar, Êđê, Jrai, Mnông, K’ho, Xđăng, Rơmăm…ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum. Vùng đất này được coi là cái nôi Cồng chiêng của Đông Nam Á. So với các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á, chất liệu của Cồng chiêng Tây Nguyên được chế tác bằng tre nứa hoặc bằng đồng, có cái pha vàng, bạc hoặc đồng đen, lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm.

 

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

      Thành viên mới - Ảnh: Bảo Hưng

Nghệ thuật diễn tấu Cồng chiêng Tây Nguyên được thể hiện rất đa dạng và độc đáo. Tính độc đáo của Cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện ở trình độ điêu luyện của người diễn tấu trong việc áp dụng những kỹ năng đánh Cồng chiêng và kỹ năng chế tác. Nghệ nhân có thể dùng theo dàn, theo bộ Cồng chiêng. Mỗi bộ có từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của người Jrai, hoặc dùng đơn lẻ. Dàn Cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau. Điều đặc biệt trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc một chiếc chiêng (trừ chiêng Arap của người Jrai).

Khi nghe Cồng chiêng, chúng ta có thể phát hiện các tầng giai điệu được đan xen và đối ứng với nhau bên cạnh phần đệm hòa âm trong các bài bản liên quan đến lễ hội cúng bến nước, lễ hội mừng được mùa, lễ hội cầu mưa, nghi thức đón khách hay kết nghĩa.v.v.. Âm thanh mở đầu của tiết tấu Cồng chiêng thường là chuỗi âm thanh tạo nên một tổng phổ âm nhạc vừa tinh tế, vừa đầy đặn và sâu lắng. Điều này cho thấy, Cồng chiêng Tây Nguyên là sự hòa quyện giữa hai loại nghệ thuật âm nhạc chủ điệu và đa điệu theo lối tư duy hòa âm được hình thành từ chính bản chất bồi âm đa thanh của tự nhiên. Đặc tính hợp tấu và hòa tấu của âm nhạc đã xác định tính diễn xướng tập thể của cồng chiêng qua mối quan hệ tương tác với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên trong dòng chảy lịch sử.

Theo nghiên cứu của Cố GS.TS Trần Văn Khê, đặc thù của Cồng Chiêng Tây Nguyên được biểu hiện qua: (1) tính đa dạng, (2) tính thiêng, sợi dây liên kết giữa con người với yếu tố tâm linh (3) xuất hiện trong đời sống con người từ thủa thiếu thời đến khi nhắm mặt lìa trần qua sinh hoạt thường ngày, trên nương rẫy, trong thời bình, chiến tranh, (4) sự tinh tế, chính xác, đặc biệt qua cách chỉnh âm và tạo ra âm thanh (dùi gõ bằng gỗ cứng – gỗ mềm – gỗ có bọc da, tay mặt tạo ra thanh – độ cao – màu âm khác nhau tùy nơi gõ, tay trái có thể tham gia biểu diễn bằng cách bóp vành Cồng làm thay đổi màu âm). Trong khi các dàn Cồng Chiêng lớn của Inđônêxia, Malaysia và Philipin, nhạc công chỉ gõ lên núm Cồng Chiêng, không dùng tay trái để thay đổi màu âm của tiếng nhạc như trong Cồng Chiêng Tây Nguyên, (5). Biên chế của dàn cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, chức năng của mỗi loại Cồng trong khi biểu diễn mà còn liên quan đến tổ chức xã hội và triết lý sống của dân tộc trong vùng đó, như chia ra chiêng mẹ, chiêng cha, chiêng con, chiêng cháu – nhắc lại xã hội của các cộng đồng thiên về Mẫu hệ, nên chiêng mẹ được xem là quan trọng trước chiêng cha – chiêng mẹ, chiêng cha phát ra thanh âm trầm hơn làm nền cho bản nhạc, chiêng con cách khoảng đều nhau như những cây cột dựng lên nhà, chiêng cháu di chuyển, tạo ra những âm thanh có độ cao và phối hợp thành giai điệu giống như kèo và nóc của nhà. Trong các nước Đông Nam Á không có nơi nào chúng ta tìm được việc lập biên chế liên quan đến tổ chức xã hội và triết lý sống của chủ thể di sản như ở Tây Nguyên, (6). Cách sắp đặt đối tượng quan trọng ở giữa, trong khi dàn chiêng đi vòng quanh đối tượng để cho khoảng cách giữa người nghe và mỗi chiếc bằng nhau, (7) Cồng Chiêng di chuyển từ mặt sang trái, đi ngược với Kim đồng hồ, đi ngược thời gian trở về dĩ vãng. Từ bên ngoài vào đến con tim, một hướng đi thiền hành trong Phật giáo. Chỉ trừ một vài dàn chiêng nhỏ như Gangsa của dân tộc Kalinga (Philipin), người đánh chiêng có di chuyển đôi chút và có những động tác gần như múa, nhạc công trong các dàn chiêng lớn Đông Nam Á đều ngồi một chỗ biểu diễn và (8) Cách phát triển giai điệu không đi theo con đường ngay từ thấp đến cao hay đi theo đường cong, mà bằng những mô hình nối tiếp nhau theo những phương pháp lập lại (répétition) trả lời (réponse) … rất độc đáo được thể hiện rất rõ trong Cồng chiêng Tây Nguyên.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

     Thẩm âm-Ảnh: Bảo Hưng 

Như vậy, có thể thấy Cồng chiêng Tây Nguyên là yếu tố văn hóa tinh thần không thể thiếu của đồng bài các dân tộc Tây Nguyên. Để phát huy bản sắc văn hóa Tây Nguyên, từ năm 1993 đến nay, nhà nước ta đã tổ chức các lễ hội cồng chiêng theo định kỳ khoảng 2 đến 3 năm một lần, nhằm giữ gìn vốn quý một di sản văn hóa của nhân loại và cũng là một sản phẩm du lịch đặc sắc của vùng đất Tây Nguyên, Việt Nam.

                                                                                                    PHƯỚC THUẬN 

 

Top